Yêu Chúa là...
Yêu Chúa là...
Mathew 22:37-39
Ngươi hãy hết lòng, hết linh hồn, hết ý mà yêu mến Chúa, là Đức Chúa Trời ngươi. Ấy là điều răn thứ nhứt và lớn hơn hết. Còn điều răn thứ hai đây, cũng như vậy: Ngươi hãy yêu kẻ lân cận như mình.
Tình yêu là một đề tài dường như bất hủ với con người. Tình yêu là gì? Xuân Diệu, một người được mệnh danh là thi sĩ của tình yêu nói rằng yêu là chết trong lòng một ít. Nếu chỉ chết một ít thôi thì tôi cho rằng cũng chưa phải là yêu. Yêu là phải chết hết, chết tất cả. Một nhà thơ đã định nghĩa “Tình yêu là nỗi ám ảnh suốt đời, và sự chết cũng vậy.” Chính Xuân Diệu cũng không định nghĩa được tình yêu, theo ông yêu là một cảm xúc rất mơ hồ:
Làm sao giãi nghĩa được tình yêu
Chỉ biết rằng trong một buổi chiều
Nó chiếm hồn tôi bằng nắng nhạt
Bằng mây nhè nhẹ gió hiu hiu.
Đây là một định nghĩa hoàn toàn dựa trên xúc cảm của một người, cho dầu người ấy từng được coi là trong những người đứng đầu của dòng thơ lãng mạn Việt Nam cận đại. Nó không thể cho ta một định nghĩa rõ ràng về tình yêu. Theo tự điển Việt Nam Online, yêu là một tình cảm trìu mến dành cho một đối tượng nào đó. Theo tự điển Kinh Thánh của nhà Holman, tình yêu là lòng vị tha, chung thủy, có chủ đích nhân từ và hứa nguyện với một người khác.
Khái niệm tình yêu xuyên suốt cả Kinh Thánh. Có thể nói Kinh Thánh là cuốn sách của tình yêu. Nhưng không phài là tình yêu hay thay đổi của con người, mà là tình yêu tuyệt đối, đời đời của Đức Chúa Trời dành cho nhân loại.
Trong ngôn ngữ Hebrew có một số từ dùng để đặc tả tình yêu như sau.
Chesed dùng để chỉ về tình yêu theo giao ước, Đức Chúa Trời đã hứa yêu thương con người.
Ahavah tình yêu giữa hai người khác giới tinh hay của người nầy với người khác. Trong đó có tình yêu vợ chồng, cha mẹ, con cái, anh em và tha nhân.
Trong Tân Ước có 3 từ chỉ tình yêu:
Eros để chỉ tình yêu dục tình
Phileo dùng cho tình yêu bạn bè, gia đình
Agapeo từ từ nguyên là agape dùng để chỉ tình yêu vô điều kiện của Đức Chúa Trời dành cho loài người.
Tất cả những chữ chỉ về tình yêu chúng ta vừa đề cập đến không có từ nào dùng cho tình yêu cùa con người dành cho Đấng Tạo Hóa. Phải chăng không hề có tình yêu của loài người dành cho Đức Chúa Trời hay con người không bao giờ biết yêu Đấng đã tạo dựng nên họ? Tôi không cho là như vậy. Đức Chúa Trời yêu con người là điều tự nhiên vì Ngài tạo dựng nên chúng ta, vì bản chất của Ngài là yêu thương. Cha me, con cái, anh chọ em yêu nhau là điều bình thường vì chúng ta thừa hưởng phần nào bản tính yêu thương của Đức Chúa Trời. Ban đầu, khi mới được dựng nên chắc chắn Adam và Eva yêu Chúa và sống trong mối tương giao mật thiết với Ngài. Nhưng thừ khi họ phạm tội thì lòng kính mến Chúa không còn ở trong họ nữa. Sứ đồ John nói trong IJohn 2:15 Chớ yêu thế gian, cũng đừng yêu các vật ở thế gian nữa; nếu ai yêu thế gian, thì sự kính mến Đức Chúa Cha chẳng ở trong người ấy.
Cho nên ngày nay chúng ta là những người đã tin Chúa, những người từ địa vị tội nhân được phục hòa Đức Chúa Trời, được phục hồi địa vị con cái Ngài, nếu muốn tái lập lại lòng yêu kính Chúa, chúng ta phải học, phải tập tành tình yêu đó. Lòng yêu Chúa của Cơ Đốc Nhân không phải tự nhiên có sau khi người ấy tin Chúa, mà nó giống như tình yêu của một em bé dành cho cha mẹ, lớn lên từng ngày, từng ngày theo sự trưởng thành và gắng bó giữa em bé và cha mẹ. Lòng kính yêu Chúa của chugn ta cũng lớn lên từng ngày tùy theo mức độ tăng trưởng sự hiểu biết của chúng ta về Chúa, lượng đức tin đặt nơi Ngài và kinh nghiệm bước đi từng ngày với Chúa. Cho nên Yêu Chúa là:
A. BIẾT CHÚA
1. Biết Chúa Bằng Lí Trí.
Chúng ta theo Chúa bao nhiêu năm, nghe bao nhiêu bài giảng, học bao nhiêu bài học KT, chúng ta có thể nói đã biết rõ Ngài chưa? Kinh Thánh cho chúng ta biết chúng ta không bao giò biết rõ về Chúa cho tới khi chúng ta gặp đuợc Ngài. ICor 13:12 Ngày nay chúng ta xem như trong một cái gương, cách mập mờ: Đến bấy giờ chúng ta sẽ thấy hai mặt đối nhau; ngày nay tôi biết chưa hết: Đến bấy giờ tôi sẽ biết như Chúa đã biết tôi vậy.
Hôm nay tôi không có ý đi sâu vào đề tài biết Chúa, nhưng chỉ đề cập đến sự biết Chúa như là tiền đề cho lòng yêu Chúa. Chúng ta không thể yêu Chúa nếu không biết về Ngài. Chúng ta là con người hữu hạn, bị hạn chế bởi không gian và thời gian. Có nghĩa là chúng ta bị giới hạn trong môi trường chúng ta đang sống, chúng ta không thể bay lên trời, chui xuống đất hay đi từ nơi nầy đế nơi khác mà không có phương tiện. Nhưng Đức Chúa Trời là Đấng Vô Hạn nên chúng ta không thể hiểu biết nết về bản thể của Ngài. Chúa đã tạo nên vũ trụ bao la và đầy bí hiểm nầy chỉ bằng một lời phán, nhưng con người trãi nhiều ngàn năm dày công tìm kiếm nhưng cũng không thể nào khám phá hết được. Những gì khoa học đã khám phá chỉ là một phần rất nhỏ bé trong công trình vĩ đại của Ngài. Khoa học càng tiến bộ bao nhiêu thì những thắc mắc của con người về cõi thiên nhiên càng lớn bấy nhiêu. Nền triết học phát triển bao nhiêu thì nỗi khắc khoải của con người về nguồn cội, về thân phận, lẽ sống và sự chết càng lớn bấy nhiêu. Càng khám phá càng thấy mình ngu dốt. Càng đi xa vào vũ trụ càng cảm nhận được sự nhỏ bé và mong manh của kiếp người. Còn biết bao bí ẩn trong chính cơ thể, trong tâm hồn chúng ta, biết bao nhiêu bí ẩn trong đại dương sâu kín, trong lòng đất tối tăm, trong vũ trụ bao la kia mà con người không bao giờ có thể khám phá hết được. Đó chỉ mới nói đến công trình của Ngài, những vật thọ tạo của Ngài.
Con người cũng đã cố gắng khám phá bản thể của Thượng Đế và Ngài cũng đã bày tỏ chính Ngài cho họ qua lương tâm, qua thiên nhiên và qua Kinh Thánh. Các nhà khoa học nhận biết Chúa qua những bằng chứng khoa học, các nhà thần học nhận biết Chúa qua những lý luận thần học. Nhưng các bác nông dân tay lấm chân bùn cũng có thể nhận biết Ngài qua thiên nhiên, thời tiết, mùa màng, qua sự kì diệu của chu trình sinh sản... Tất cả những hiểu biết đó về Thượng Đế đều tốt, quan trọng nhưng sẽ không mang lại ích lợi gì nếu đó chỉ là những hiểu biết của lí trí. Chúng ta có thể đọc vanh vách giáo lí căn bản, trình bày rõ ràng, rành mạch về giáo lí Ba Ngôi, về cứu thục học, về lai thế học...Nhưng nếu tất cả chỉ nằm trong cái đầu mà không có trong trái tim thì chúng ta là những người đáng tội nghiệp. Nếu chúng ta chỉ biết Chúa bằng lí trí thôi hì sự hiểu biết đó còn kém xa ma quỉ, vì nó biết Chúa rõ hơn và nhiều hơn chúng ta. Satan vốn là thiên sứ trưởng, hằng ngày ở bên cạnh Chúa, hiểu biết về Chúa và chính sự hiểu biết đó làm nó trở nên kiêu ngạo và sa ngã!
Chúng ta phải học để biết nhiều hơn về Chúa nhưng sự hiểu biết đó phải từ cái đầu chảy vào trong tim chúng ta, thì sự hiểu biết đó mới thật sự có giá trị, thật sự có ích, có thể biến những ngôn tự chết thành quyền năng của sự sống. Sứ đồ Paul nói trong II Cor 3:6 vì chữ làm cho chết, song Thánh Linh làm cho sống. Như vậy chúng ta mới có thể biến những hiểu biết khô khan đó thành kinh nghiệm sống trên bước đường theo Ngài.
2. Biết Chúa Bằng Kinh Nghiệm.
Đầu năm ngoái, tại Welmington cảnh sát đã tìm ra một cô bé sau 13 năm mất tích. Đây là vụ mất tích kéo dái nhất lịch sử Hoa Kỳ. Cô bé tên là Mary Byrd, con của ông Car Dodd. Người đã li dị của ông đã đem cô bé đi trốn trong khi tòa án đang phân xử về quyền giám hộ cô bé. Cảnh sát đẽ tìm được Mary vào đúng ngày sinh nhật thứ 17 của cô. Ong Dodd rất vui mừng khi gặp lại con gái sau 13 năm xa cách. Nhưng cô gái thì tỏ ra lạnh lùng, thờ ơ với người cha ruột của mình. Tại sao cô lại có thái độ đó sau 13 không thấy mặt cha? Vì cô tuy biết cha nhưng không được gần gũi và không có từng trãi sống cùng cha.
Tôi biết vợ tôi từ khi cô còn là một thiếu nhi trong nhà thờ. Nếu bấy giờ có ai hỏi tôi biết cô ta không thì thôi có thể mạnh dạn trả lời là biết. Tôi có thể mô tả gương mặt cô ấy ra sao, tóc như thế nào, mập hay ốm, con của ai, anh chị em là ai. Nhưng mãi hai mươi năm sau, khi chúng tôi đã nên vợ chồng tôi mới thật sự biết, mới kinh nghiệm được cô.
Một nhà hóa học có thể phân tich và lí giải rỏ ràng một quả cam. Nhưng nếu ông không nếm, không ăn thì không thể kinh nghiệm vị ngọt của quả cam như thế nào! Đời sống theo Chúa cũng vậy, nếu chúng ta chỉ biết Chúa qua sách vở, qua truyền thống (ông bà, cha mẹ tin Chúa, đi nhà thờ lâu năm...), nhưng nếu không tiếp nhận Chúa, không ăn nuốt Lời Chúa, không có liên hệ cá nhân với Ngài thì chúng ta không thể kinh nghiệm được Ngài, kinh nghiệm được tình yêu ngọt ngào của Ngài. Và nếu không kinh nghiệm tình yêu của Ngài thì chúng ta không thể yêu Ngài. Chúng không thể yêu Chúa nếu chúng ta không biết đuợc Ngài yêu chúng ta đến mức nào. Lời Chúa IJohn 4:9-10 chép Lòng Đức Chúa Trời yêu chúng ta đã bày tỏ ra trong điều nầy: Đức Chúa Trời đã sai Con một Ngài đến thế gian, đặng chúng ta nhờ Con được sống. 10 Nầy, sự yêu thương ở tại đây: ấy chẳng phải chúng ta đã yêu Đức Chúa Trời, nhưng Ngài đã yêu chúng ta, và sai Con Ngài làm của lễ chuộc tội chúng ta. Và trong John 15:13 Chẳng có sự yêu thương nào lớn hơn là vì bạn hữu mà phó sự sống mình. Chúa không yêu chúng ta một cách chung chung như yêu toàn thể nhân loại mà Ngài yêu mỗi một người chúng ta. Tình yêu Ngài dành riêng cho tôi và cũng dành riêng cho từng người trong quí vị. Thiên Chúa đã vì yêu chúng ta mà hơn 2000 năm trước đã giáng sanh nơi chuồng chiên máng cỏ đê hèn, sống một cuộc đời khổ nhục và cuối cùng bị kết án như một tội phạm gian ác nhất, bị đóng đinh trên cây thập tự không chỉ là chịu chung cho toàn thể nhân loại, mà là cho từng người trong chúng ta. Ngài đã chịu chết vì tội của tôi, của chính tôi và Ngài cũng đã chịu chết cho từng người trong quí vị. Ngài đã chịu chết vì cớ cá nhân chúng ta thì chúng ta cũng tiếp nhận Chúa một cách cá nhân, yêu Chúa một cách riêng tư, kinh nghiệm Chúa cách riêng tư. Chúng ta không thể yêu Chúa bằng kinh nghiệm của người khác, của cha mẹ, ông bà, anh em hay bạn bè.
Tôi sinh ra trong một gia đình tin Cơ Đốc. Bà ngoại tôi là người đầu tiên trong làng tôi tin Chúa, cho nên tôi đi nhà thờ và biết về Chúa rất sớm. Nhưng mãi đến năm 16 tuổi tôi mới thật sự tiếp nhận Chúa làm Cứu Chúa riêng của mình. Rồi từ đó trên mỗi bước thăng trầm của cuộc đời, tôi dần có kinh nghiệm với Ngài.
Nếu chúng ta chỉ nhận biết Chúa một cách chung chung như người ngoại nhận biết có một ông trời nào đó, người Phật giáo biết đức Thich Ca, người Hồi biết Mahomah mà không có từng trãi với Ngài thì cũng không yêu Ngài thật sự được. Tình yêu Chúa phải từ cái đầu chảy vào trong tấm lòng của chúng ta mới khiến chúng ta có thể yêu Ngài thật sự. Và khi đó quyền năng Thánh Linh sẽ biến đổi cuộc đời chúng ta. Chúa sẽ là người bạn trong cuộc đời chúng ta. Chúng ta cùng đi, cùng làm việc, cung ăn uống, vui chơi, ngủ nghĩ với Ngài. Chúng sẽ mỗi ngày biết Ngài nhiều hơn, kinh nghiệm Ngài nhiều hơn. Chúa Jesus phán: Nầy, ta đứng ngoài cửa mà gõ; nếu ai nghe tiếng ta mà mở cửa cho, thì ta sẽ vào cùng người ấy, ăn bữa tối với người, và người với ta (Khai 3:20). Hình ảnh ăn bửa tối là hình ảnh thân mật, ấm cúng và đầy yêu thương của hai người yêu nhau. Chúa Jesus đang mời gọi mỗi chúng ta thiết lập mối liên hệ yêu đương cá nhân giữa Ngài với chúng ta và chúng ta với Ngài.
B. YÊU CHÚA
Người nông dân khi gieo một hạt giống xuống đất, mong ước hạt giống được nẩy mầm, lớn lên và cho kết quả. Chúa Jesus đã gieo vào trong mãnh đất lòng chúng ta hạt giống tình yêu của Ngài và Ngài mong nhìn thấy hạt giống ấy trở thành cây và có kết quả. Trong Mat 13:31 Ngài vì sánh hạt tình yêu đó như là một hạt cải người kia đem gieo trong ruộng, đã trở nên một cây lớn làm nơi ẩn nấp và nuôi sống loài chim trời. Nếu tình yêu Chúa trong chúng ta không lớn lên và không mang đem ích lợi lại cho Danh Chúa và cho người khác thì tình yêu ấy không giá trị. Nó chỉ là một hạt giống chết mà thôi! Một trong những ấu hiệu dễ thấy nhất của một người thật sự yêu Chúa là:
Yêu Anh Em
Tình yêu thương giữa các Cơ Đốc Nhân là đặc điểm của Tin Lành. Yêu thương nhau là mạng lệnh của Chúa. Chúa dạy chúng ta rằng người ta sẽ nhận biết chúng ta là môn đồ của Ngài khi chúng ta yêu thương nhau. Ta ban cho các ngươi một điều răn mới, nghĩa là các ngươi phải yêu nhau; như ta đã yêu các ngươi thể nào, thì các ngươi cũng hãy yêu nhau thể ấy. 35 Nếu các ngươi yêu nhau, thì ấy là tại điều đó mà thiên hạ sẽ nhận biết các ngươi là môn đồ ta (John 13:34-35). Bởi vậy nếu ai không muốn người ta nhận biết mình là Tin Lành thì đừng yêu anh em mình!
Yêu anh em mình có nghĩa là yêu Chúa. Giúp đỡ anh em mình có nghĩa là giúp đỡ Chúa. Ai cho anh em mình một miếng bánh, một ly nước, một cái áo, ấy là cho Chúa. Ai từ chối anh em mình là từ chối Chúa. Trong Mat 25:42-45 chép Vì ta đã đói, các ngươi không cho ăn; ta khát, các ngươi không cho uống; 43 ta là khách lạ, các ngươi không tiếp rước; ta trần truồng, các ngươi không mặc cho ta; ta đau và bị tù, các ngươi không thăm viếng. 44 Đến phiên các người nầy bèn thưa lại rằng: Lạy Chúa, khi nào chúng tôi đã thấy Chúa, hoặc đói, hoặc khát, hoặc làm khách lạ, hoặc trần truồng, hoặc đau ốm, hoặc bị tù mà không hầu việc Ngài ư? 45 Ngài sẽ đáp lại rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi, hễ các ngươi không làm việc đó cho một người trong những người rất hèn mọn nầy, ấy là các ngươi cũng không làm cho ta nữa.
Đức Chúa Trời là Đấng vô hình, chúng ta không thể thấy Ngài, vậy chúng ta yêu Ngài thì chúng ta bày tỏ tình yêu đó như thế nào đây? Với ai đây? Yêu Chúa là phải đi nhà thờ đều đặn? Dâng hiến rộng rãi? Tham gia ban hát? Tham gia tất cả mọi chương trình của HT?...Đúng không? Vâng, đúng! Đó có thể là những biểu hiện của lòng yêu Chúa, nhưng lòng yêu Chúa không phải chỉ có chừng đó! Tất cả những điều đó đều đúng, đều tốt và dễ làm. Nhưng đôi khi nó lại trở thành một cài vỏ che đậy sự lạnh lùng, ích kỷ, thiếu tình yêu thương bên trong chúng ta. IJohn 4:20-21 Ví có ai nói rằng: Ta yêu Đức Chúa Trời, mà lại ghét anh em mình, thì là kẻ nói dối; vì kẻ nào chẳng yêu anh em mình thấy, thì không thể yêu Đức Chúa Trời mình chẳng thấy được. 21 Chúng ta đã nhận nơi Ngài điều răn nầy: Ai yêu Đức Chúa Trời, thì cũng phải yêu anh em mình.
Yêu Tội Nhân
Hội thánh của Chúa trên đất là một tập hợp của tình yêu. Nhưng nếu chỉ tình yêu đó chỉ gói gọn trong vòng những con cái Chúa với nhau thì cũng không đúng mục đích Chúa đặt Hội thánh Ngài trên đất. Chúa nói “Các ngươi là muối của đất, là ánh sáng của thế gian.” Tình yêu đó phải vượt thoát khỏi bốn bức tường nhà thờ, đến với thế gian, ảnh hưởng và làm thay đổi cộng đồng. Muốn vậy chúng ta phải có tình yêu đối với những người chưa biết Chúa.
Chúa Jesus khi nhìn thấy đoàn dân đông theo Chúa mỗi ngày, Ngài không cảm thấy mệt mỏi vì họ cứ theo Ngài mãi. Ngài thấy họ đáng thương như một bầy chiên không có người chăn. Chúa Jesus nhìn họ và động lòng thương xót. Chúng ta là con cái Chúa, là môn đệ của Chúa, xin Chúa cho chúng ta cũng nhìn những người thế gian hôm nay giống như Ngài, bằng tình yêu của Ngài. Chúng ta không làm tròn sự mang rao giảng Tin lành không phải vì chúng ta thiếu khả năng, thiếu thời gian hay tiền bạc. Cái chúng ta thiếu ấy là THIếU TÌNH YÊU ĐốI VớI TộI NHÂN. Chúng ta sẽ không làm gì được nếu chúng ta thiếu tình yêu thương. Chúng ta có thể cố gắng làm nhưng không kết quả và không ích lợi. Paul nói trong ICor 13:3 Dầu tôi phân phát gia tài để nuôi kẻ nghèo khó, lại bỏ thân mình để chịu đốt, song không có tình yêu thương, thì điều đó chẳng ích chi cho tôi.
C. THẾ GIỚI CẦN TÌNH YÊU
Ngày nay chúng ta đang sống trong một thế giới mà mọi giá trị đạo đức đều bị đảo lộn, ý niệm về tình yêu đang mất dần chổ đứng. Thế giới dường như không có tình yêu, không có sự hi sinh, quên minh. Thành tích là thước đo của mọi sự. Âm mưu, thủ đoạn, xảo trá được cho là khôn ngoan. Ngay thẳng, thật thà bị cho là ngu dại. Chiến tranh được cho là vẻ vang và được dùng như một phưong tiện hữu hiệu để giải quyết mọi bất đồng, xung đột. Cách đây ba năm, tổng thống Bush đến thăm Trung Quốc. Ông nói với người Trung Hoa rằng 90% dân Mỹ tin vào Thượng Đế và ông là một trong số họ. Ren Bumei, một học giả TQ mô tả TT Bush đã khóc khi nhắc lại vụ 9/11 trong khi hầu hết cử tọa đều im lặng và dửng dưng. Ông cho rằng họ dửng dưng không phải là vì họ không quan tâm đến điều ông Bush nói. Họ dửng dưng vì không có sự đồng cảm với nỗi đau của người khác. Đơn giản chỉ vì họ thiếu tình yêu thương của Đức Chúa Trời. Điều đất nước Trung Hoa quan tâm nhất là làm giàu, làm giàu và làm giàu!
Khi chúng ta không có tình yêu thương của Chúa, chúng ta không thể nhìn người khác bằng cái nhìn yêu thương, thông cảm và sẵn sàng giúp đỡ. Khi chúng ta không có tình yêu của Chúa, chúng ta không thể sống trong tinh thần quên mình, hy sinh và phục vụ tha nhân.
Sau phim The Passion of Christ gây chấn động thế giới về những giờ phút khổ nạn của Chúa Jesus, một phim khác mang tên End of The Spear (tạm dịch là Gác Giáo) đã ra đời. Phim kể về câu chuyện thật của 5 giáo sĩ Tin Lành đã bị giết chết bởi thổ dân trong rừng rậm Ecuador Nam Mỹ. Waodami la một bộ lạc Nam Mỹ còn đóng khố, sống bằng nghề săn bắn, họ thích giết người và giết lẫn nhau. Năm 1956 có 5 giáo sĩ Mỹ muốn đem Tin lành đến cho họ. Họ tìm cách làm quen với người Waodomi bằng cách dùng máy bay thả thức ăn và vật dụng xuống cho họ. Khi họ tưởng có thể tiếp xúc được với thổ dân, họ quyết đinh hạ cánh. Họ có súng nhưng quyết đinh không dùng súng để tự vệ vì họ biết những thổ đân nầy chưa sẵn sàng lên thiên đàng. Họ tiếp mấy người phụ nữ tò mò, đem lên máy bay, chở đi một vòng rồi hạ cánh trở lại. Trong khi họ hạ cánh xuống lại, nhóm đàn ông đi săn về xuất hiện. Do bất đồng ngôn ngữ cộng với bản tính hung hăng hiếu sát, các thổ dân đã dùng giáo giết chết năm giáo sĩ.
Năm người vợ của năm giáo sĩ đó không những không thù ghét thổ dân, mà họ tiếp tuc sự nghiệp của chồng. Họ quyết định don đến ở cùng với người Waodomi. Bằng tình yêu thật sự, họ đã thay đổi được người Waodomi. Bây giờ Waodomi là một bộ tộc kính sợ Chúa, sống hiền lành và văn minh.
O’Malley, một mục sư tại Grass Valley, Nevedas. Thành phố ông ở có một người đàn ông lớn tuổi sống khắc khổ và cô độc. Một đêm mưa bão, Ms. O’Malley đang soạn bài giảng thì chuông điện thoại reo. Bệnh viện cho ông biết người đàn ông đó dang hấp hối và họ cần ông có mặt ngay. O’Malley phải mất hai giờ để tới được bệnh viện trong buổi tối mưa bão đó. Khi thấy O’Malley, người bệnh thều thào:
-Ai mời ông đến đây?
-Tôi đến thăm ông. Ông có muốn tôi cầu nguyện cho ông không?
-Tôi sắp chết và chẳng cần ai cả!
-Tôi có thể ngồi đây với ông một lát được không?
-Tùy ông!
Nói xong nguời đàn ông quay mặt và thiếp đi. O’Malley ngồi đó từ nữa khuya cho tới sáng. Sau khi ngủ được một giấc, người đàn ông tỉnh dậy, thấy O’Malley vẫn còn ngồi đó. Ông ta có vẻ hơi chạnh lòng.
- Ông chưa về sao? Thôi được, tôi sẽ kể cho ông nghe về cuộc đời tôi. Tôi nghĩ không ai có thể tha thứ cho tôi được. Cách đây 32 năm 2 tháng 11 ngày, tôi đã gây ra một tai nạn khủng khiếp. Lúc đó tôi đang làm ở sở hỏa xa. Một đêm trong phiên trực, tôi uống rượu say khước cùng những người bạn và tôi đã mở sai chốt chuyển đường khi có chuyến tàu hàng chạy đến. Chuyền tàu hàng đó đã đâm vào một chuyến tàu khách, làm một gia đình chết bốn người, nghe nói chỉ còn một đứa bé sống sót. Tôi cho rằng cậu bé đó sẽ không bao giờ tha thứ cho tôi. Chúa cũng không thể tha thứ cho tôi, và ba mươi mấy năm qua, tôi không bao giờ tha thứ cho mình, không một giây phút nào tôi được yên lòng. Bây giờ tôi sắp chết, tôi sắp được thoát khỏi cuộc sống đày ải nầy.
O’Malley ngồi đó, hai vai ông rung lên vì quá xúc động. Ong đã khóc. Cuối cùng, ông ngước lên và nói,
-Cậu bé đó đã tha thứ cho ông!
Người hấp hối cười nhạt,
-Sao ông biết?
Chậm rãi và chắc chắn, O’Malley nói,
-Thưa ông, tôi chính là cậu bé đó. Tôi đã tha thứ cho ông và chắc chắn Chúa cũng đã tha thứ cho ông!
Những nét đau khổ trên gương mặt người đàn ông biến mất. Sáng hôm đó ông qua đời.
Thưa HT không trả thù người hại minh là một điều khó, không phải ai cũng làm được. Tha thứ và đối xử tốt với kẻ hại mình lại càng khó hơn và dường như nằm ngoài khả năng của con người. Trên thế gian nầy, người đầu tiên làm được điều đó là Chúa Jesus. Trên thập tự giá, Ngài đã cầu nguyện: “Lạy Cha xin tha cho họ vì họ không biết điều mình làm!” Sau Chúa Jesus, nhiều môn đồ của Ngài cũng đã làm giống như Ngài. Còn chúng ta hôm nay thi sao?
Chúng ta cũng muốn làm như vậy nhưng không làm được, phải không? Chúng ta muốn làm theo lời Chúa dạy “hãy yêu kẻ thù minh, làm ơn cho kẻ ghét minh, chúc phước cho kẻ rủa sả mình và cầu nguyện cho kẻ sỉ nhục mình” nhưng không như sứ đồ Paul đã kinh nghiệm “tôi muốn làm điều lành nhưng điều dữ cứ theo tôi.” Vậy phải làm sao?
Quí vị thấy đây là một cái thập tự giá. Nó gồm hai thanh, một ngang và một dọc. Thanh đứng giữ cho thanh ngang nằm lơ lững má không bị rơi xuống. Không ai có thể đặt một vật nằm lơ lững trên không mà không có vật đỡ.
Thanh đứng tượng trưng cho tình yêu giữa Đức Chúa Trời với chúng ta. Thanh ngang tượng trưng cho tình yêu giữa chúng ta với những người chung quanh. Tình yêu thương của chúng ta phải dựa vào, tùy thuộc vào, đặt căn bản trên tình yêu của chúng ta với Đức Chúa Trời. Nếu có ai nói rằng “tôi có thể yêu người khác như chính mình mà không cần đến tình yêu của Đức Chúa Trời,” đó chỉ là lời nói dối. Nếu hôm nay chúng ta không thiết lập dừợc mối liên hệ cá nhân chúng ta với Chúa, thì mối liên hệ của chúng ta với người chung quanh sớm muộn gì cũng sẽ gãy đổ. Nếu hôm nay chúng ta không kinh nghiệm được tình yêu của Chúa thì chúng ta cũng không thể nào yêu thương những người chung quanh.
Yêu Chúa có nghĩa là phải biết Ngài. Không phải chỉ biết bằng lí trí mà phải biết bằng kinh nghiệm, bằng tấm lòng khi chúng ta đầu phục Chúa trọn vẹn và dâng tấm lòng chúng ta cho Ngài, Như vậy chúng ta mới làm trọn luật pháp Chúa là hãy hết lòng, hết linh hồn, hết ý mà yêu mến Chúa là Đức Chúa Trời ngươi. Ay là điều răn thứ nhất và lớn hơn hết. Còn điều răn thứ hai đây, cũng như vậy: Ngươi hãy yêu kẻ lân cận như mình.”
Ngvanluc